Chùa làng có nhiều cách thờ tự khác nhau. Mái chùa thấp nên thờ tự không phân biệt. Chỉ có tượng Thích Ca lúc nào cũng thiết chính giữa, còn chung quanh có chùa thờ đủ loại tượng. Trong căn nhà vuông nhỏ chỉ hai chái mà có cả nơi thờ tự, có chuông trống, phướn cờ, thế nhưng lại rất thân mật với dân làng. Vào các ngày lễ lớn như rằm tháng Tư, rằm tháng Bảy, lễ, Tết, nam nữ trong làng và những người lớn tuổi thường đến chùa lễ Phật. Những người dân quê hiền lành cùng với những lời cầu nguyện mùa màng tươi tốt, gia đạo bình yên, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đó cũng chính là lời cầu nguyện mẹ cha sức khỏe, yên vui trong mùa Vu Lan báo hiếu. Có thể nói, chùa làng đã trở thành một mái ấm tinh thần của cư dân cả làng. Ai cũng đều có thể đến đây thỉnh một tiếng chuông, thắp hương lễ Phật, tìm thấy sự bình yên và thanh thản trong tâm hồn. Cũng từ những dịp gặp gỡ tại chùa mà tình bà con, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt hơn. Nề nếp của làng, của gia đình được giữ gìn bởi những vị tuổi cao đức trọng, những vị tộc trưởng. tình cảm của dân làng và mái chùa làng cứ thế dày thêm theo năm tháng…
Ngôi chùa làng một thời đã in dấu trong tâm trí của bao thế hệ, với tiếng chuông chùa sớm chiều vang lên trong không gian đồng quê yên bình. Tiếng chuông như nhắc nhở mọi người hãy sống thuận hòa, biết chăm lo cày cấy để có cuộc sống ấm no. Tuổi thơ nhiều người đã từng gắn bó với sân chùa, cây đa, gốc đại cùng biết bao kỷ niệm đẹp.
Qua năm tháng, những ngôi chùa làng ở các miền quê không còn cảnh “tranh tre nứa lá” mà đã được xây dựng kiên cố, thờ phụng trang nghiêm hơn. Thế nhưng nét trầm lặng, u tịch, rêu phong của những ngôi chùa làng xưa vẫn luôn thể hiện vẻ đẹp và chiều sâu văn hóa với những nét đặc trưng về kiến trúc, điêu khắc, lịch sử của làng nói riêng và của đất nước nói chung. Ngôi chùa mãi vươn cao mình như để che chở cho cả làng quê.
Trên con đường về các làng quê, đặc biệt ở đồng bằng Bắc bộ, chúng ta có thể thấy chùa làng hiện ra xa xa, mờ ảo trong làn sương khói dưới những tán cây cổ thụ. Hình ảnh đó gợi trong lòng kẻ tha hương bao nỗi rộn ràng náo nức; cho ai dù ở bốn phương trời, nhớ về quê cũ vẫn mong được nghe một tiếng chuông chùa, ngắm nhìn làng quê trong buổi chiều hôm với những cánh cò vội vã bay về tổ ấm…
Sách Quốc văn giáo khoa thư có bài học Chùa làng tôi, lời văn thật cảm động về những kỷ niệm với mái chùa làng : “…Ngày rằm, mồng một, cứ đến tối, tôi thường theo bà tôi lên chùa lễ. Sư cụ tụng kinh gõ mõ, ngồi ở trên; bà tôi và các già ngồi ở dưới, vừa lễ vừa Na mô Phật. Trên bàn thờ thì đèn nến sáng choang, khói hương nghi ngút trông thật nghiêm trang…”
Và nói đến chùa làng, không thể không nhắc đến bài thơ Nhớ chùa của tác giả Huyền Không, tức cố Hòa thượng Thích Mãn Giác (1929-2006); một vị cao tăng của Phật giáo Việt Nam. Bài thơ này hòa thượng viết ở Sài Gòn năm 1956; sau khi từ Huế vào hành đạo ở chốn đô thành. Lời thơ chan chứa biết bao kỷ niệm nồng thắm với mái chùa xưa, trong đó có những câu:
“Vì vậy làng tôi sống thái bình, Sớm khuya gần gũi tiếng chuông linh . Sắn khoai gạo bắp nuôi thôn xóm. Xây dựng tương lai xứ sở mình.
Tối đến dân quê đón gió lành, Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh. Tiếng chuông thức tỉnh lan xa mãi, An ủi dân hiền mọi mái tranh….”
******