Một góc trường Kiểu Mẫu Thủ Đức. Ảnh: Phanxipăng
“Chương trình ấy chỉ có thể thực hiện không phải bằng những cuộc bàn cải về lý thuyết mà phải là kết quả của các cuộc nghiên cứu và thí nghiệm.” [4] Như thế rõ ràng là THKMTĐ sẽ là nơi thực hiện các cuộc nghiên cứu và kiểm nghiệm đó. Và, quả thật, THKMTĐ, nhìn từ tất cả mọi khía cạnh, từ triết lý giáo dục, chương trình học, hệ thống lượng giá (thi cử), cho đến cơ sở vật chất, đôi ngũ giáo sư, phương pháp giảng dạy và học tập, tất cả đều hoàn toàn mới, chưa từng có tại Việt Nam nói chung và tại VNCH nói riêng, hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu và kiểm nghiệm cho một chương trình “giáo dục mới” cho VNCH. Bộ Văn-Hóa Giáo-Dục của Chính phủ VNCH đã chính thức chấp nhận dự án thành lập THKMTĐ bằng 2 nghị-định như sau: “Trường Trung-học Kiểu-Mẫu Thủ-Đức trực thuộc Đại-Học Sư-Phạm Saigon là một Trường Trung-Học Đệ-Nhị-Cấp thiết lập do Nghị-định số 945-GD/PC/NĐ sửa đổi bởi nghị dịnh số 840/GD/PC/NĐ, ngày 12-6-1965 của Bộ Văn-Hóa Giáo-Dục.” [5] Triết Lý Giáo Dục của THKMTĐ Dựa trên căn bản là các đánh giá của các nhà giáo dục qua 20 năm nước nhà được độc lập (1945-1965), và qua hai cuộc hội thảo giáo dục toàn quốc (1958 và 1964), thể hiện qua 3 nguyên tắc chỉ đạo đã nêu bên trên (Nhân Bản, Dân Tộc, và Khai Phóng – sau chỉnh lại là Khoa Học), Giáo sư Dương Thiệu Tống, sau khi đưa ra các nhận xét như sau về nền giáo dục cũ: “1. Học đường tách rời với xã hội, kiến thức tách rời với thực tế. 2. Thiếu sự hướng dẫn do đó trẻ không được phát triển theo đúng khả năng.” [6] đã đề nghị một triết lý giáo dục mới cho THKMTĐ như sau: “Phương pháp giáo dục mới ở các nước tân tiến hiện nay dựa trên nguyên tắc của Khoa Tâm Lý giáo dục. Trẻ khác nhau về khả năng (ability), hứng thú (interests) và phải được phát triển toàn diện (full development). Dựa trên nguyên tắc ấy học đường và phương pháp giáo dục phải làm sao đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu hướng dẫn và phát triển khả năng và sở thích của trẻ. Do đó, bên cạnh lối giáo dục phổ thông, phải có giáo dục hướng nghiệp để chuẩn bị cho thanh thiêu niên có sẳn năng khiếu và hứng thú có thể lựa chọn nghề nghiệp thích hợp sau này; như vậy tránh được sự lãng phí về nhân lực như đã nói ở trên và tạo nên sự quân bình về các ngành hoạt động Văn Hóa, Mỹ Thuật, Kinh tế vv…. trong xã hội Việt Nam tương lai.” [7] Chương Trình Giáo Dục của THKMTĐ Chương trình giáo dục được áp dụng tại THKMTĐ đã thể hiện hoàn toàn triết lý giáo dục vừa nêu trên. Nói một cách cụ thể, chương trình giáo dục tại THKMTĐ là một chương trình giáo dục tổng hợp gồm 2 phần rõ rệt:- Giáo dục phổ thông: gồm đủ tất cả các môn học của chương trình giáo dục phổ thông lúc đó đang được giảng dạy trong các trường trung học trên toàn quốc, tức là các môn Triết Học (riêng cho Lớp 12), Quốc Văn, Sinh Ngữ (Anh Văn và Pháp Văn), Sử Địa (được gọi dưới tên mới là Kiến Thức Xã Hội), Toán, Lý Hóa, Vạn Vật, và ba môn Hội Họa, Âm Nhạc, và Thể Dục (cho các lớp Đệ Nhất Cấp).
- Giáo dục hướng nghiệp: gồm các môn Canh Nông, Công Kỷ Nghệ, Doanh Thương, và Kinh Tế Gia Đình.
- Đem lại giải pháp cho nền giáo dục đương thời với những khuyết điểm như là “lý thuyết, từ chương, khoa cử, không thực dụng, không sửa soạn thanh hiếu niên vào đời…” bằng cách tạo cho học sinh những “tài khéo căn bản hữu dụng cần thiết… để bổ túc cho phần kiến thức thiên về lý thuyết.”
- Đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Việt Nam, phá bỏ quan niệm lỗi thời “sĩ nông công thương,” đào tạo nhân viên kỹ thuật trung cấp cho đầy đủ mọi ngành nghề
- Đáp ứng “những thử thách kỹ thuật của thế kỷ 20… là thế kỷ của văn minh cơ khí.”
- Giúp học sinh “xóa bỏ quan niệm khinh miệt nghề lao động chân tay,” hiểu rõ “tầm quan trọng của mọi nghề và giá trị của mọi nghề,” và cũng giúp học sinh “phát triển óc tổ chức, tinh thần cộng tác, sự phối hợp, sự liên hệ giữa những người cộng sự.”
- Giáo dục hướng nghiệp không nhằm đào tạo chuyên viên, chỉ là chuẩn bị cho học sinh có đầy đủ kiến thức và thông tin để có thể dễ dàng chọn nghề đúng khả năng và sở thích của mình trong tương lai
- Tầm quan trọng: [9]
- CKN giúp học sinh biết sử dụng, sửa chữa và ngay cả chế tạo các máy móc và dụng cụ
- CKN giúp học sinh hiểu rõ đặc tính và giá trị cũng như bảo trì để tránh phí phạm những vật dụng, máy móc sử dụng trong gia đình
- CKN giúp học sinh có được một căn bản thật vững chắc để có thề tiếp tục theo học các trường cao đẳng hay kỹ sư chuyên nghiệp hay kỹ thuật về sau khi đã xong bậc trung học
- CKN cũng giúp học sinh phát triển óc sáng tạo, phát huy sáng kiến và nắm vững cách làm việc tập thể
- Nội dung cụ thể: [10]
- Vẽ CKN, không phải chỉ là kỹ nghệ họa, mà gồm đủ tất cả các loại vẽ như sau:
- Vẽ cơ khí
- Vẽ hoa hình học: xây cất, hình dạng
- Vẽ kiến trúc và đồ xá xây cất
- Vẽ sáng tác trang trì nhà cửa
- Vẽ khai triển về uốn ráp kim loại
- Các kỹ nghệ nhẹ:
- Gỗ: tính chất của gỗ, vật dụng trong nhà, bàn ghế tủ giường
- Điện: điện nhà, radio, TV, vv
- Ấn loát: sắp chữ, in sách báo, rửa phim ảnh, bản kẽm
- Công nghệ: thủy tinh, đồ gốm, thuộc da, plastic
- Các kỹ nghệ nặng:
- Kỹ nghệ kim loại: biến chế kim loại nóng (đúc gang, luyện kim…), biến chế kim loại nguội
- Năng lượng và cơ khí: năng lương thiên nhiên (gió, nước, than đá…), động cơ (máy nổ 2 thì, máy nổ 4 thì, sửa xe Honda…)
- Phân phối chương trình cho các cấp lớp:
- Đệ Thất + Đệ Lục: CKN nhập môn, lý thuyết đại cương, vai trò của ngươi tiêu thụ, nguyên tắc căn bản vê sản xuất và vật liệu (đặt trọng tâm vào vẽ CKN)
- Đệ Ngũ + Đệ Tứ: động tác căn bản, sử dụng dụng cụ cầm tay, tài khéo cần thiết trong cơ xưởng
- Đệ Tam: chú trọng về kỹ nghệ năng
- Đệ Nhị + Đệ Nhứt: các nguyên tắc để tự sản xuất, tự chọn một ngành chuyên môn cho mình trong các trường cao đẳng kỹ thuật; tài nguyên của đất nước; tổ chức cơ xưởng và nhân công
- Tầm quan trọng: [11] KTGĐ đem lại cho nữ sinh các kiến thức căn bản của phụ nữ về các lãnh vực sau đây:
- Thực phẩm
- Dinh dưỡng
- Hàng vải và may cắt
- Săn sóc trẻ con
- Chăm sóc sức khỏe cá nhân, trẻ em, và người già trong gia đình
- Điều hành, trang hoàng nhà cửa
- Chuẩn bị hôn nhân, liên hệ giữa cá nhân, gia đình, và cộng đồng
- Chương trình học cho các cấp lớp: [12]
- Đệ Thất:
- Chăm sóc bản thân: sức khỏe, và trang phục
- Thêu may và hàng vải I
- Thực phẩm và dinh dưỡng I
- Trách nhiệm trong gia đình
- Săn sóc trẻ em
- Đệ Lục:
- Cải thiện bản thân
- Chăm sóc hình dáng bên ngoài
- Thêu may và hàng vải II
- Thực phẩm và dinh dưỡng II
- Sử dụng tiền bạc, thì giờ và năng lực
- Đệ Ngũ:
- Thêu may và hàng vải III
- Công việc giặt ủi
- Săn sóc người bệnh và người già
- Thực phẩm và dinh dưỡng III
- Bản thân và gia đình
- Đệ Tứ:
- Mỹ thuật trong đời sống hàng ngày
- Nhà cửa và vật dụng trong nhà
- Săn sóc trẻ em
- Nghề nghiệp và nữ giới
- Đệ Tam:
- Ngân quỹ gia đình
- Mua sắm vật dụng trong nhà
- Quản trị gia đình
- Thêu may
- Đệ Nhị:
- Chuẩn bị cho cuộc sống hôn nhân
- Săn sóc trẻ con
- Thực phẩm của trẻ con
- Đệ Nhứt:
- Thanh thiếu niên trong đời sống cộng đồng
- Vấn đề nhà cửa trong đời sống gia đình và trong đời sống cộng đồng
- Thực phẩm của gia đình
- Trong nếp suy nghĩ của người Việt Nam từ ngàn xưa, DT bị xếp cuối cùng: “Sĩ Nông Công Thương,” đưa đến hiện trang là nền kinh tế nói chung, và DT nói riêng đã bị ngoại kiều chi phối hoàn toàn
- Để xóa bỏ khuyết điểm đó, môn DT phải được đưa vào chương trình trung học phổ thông, xếp ngang hàng với các môn văn chương, khoa học hay toán học; học sinh phải được cung cấp kiến thức để hiểu những vấn đề kinh tế thực tiển và hữu dụng trong đời sống hàng ngày
- Môn DT giúp học sinh thấu hiểu tầm quan trọng của DT trong sự thịnh vượng của quốc gia
- Môn DT cũng giúp học sinh trở thành những công dân hữu dụng cho quốc gia với kiến thức thu thập được về một số bộ môn như đánh máy, kế toán, tốc ký, nghề bán hàng, vv.
- Điểm A: Rất Giỏi (tương đượng với Hạng Ưu)
- Điểm B: Giỏi (tương đương với Hạng Bình)
- Điểm C: Khá (tương đương với Hạng Bình Thứ)
- Điểm D: Thường (tương đương với Hạng Thứ
- Điểm L: Loại (Hỏng, Rớt)
- Giáo sư Dương Thiệu Tống: 1965-1966
- Giáo sư Nguyễn Thị Nguyệt: 1966-1968
- Giáo sư Phạm Văn Quảng: 1968-1972
- Giáo sư Dương Văn Hóa: 1972-1974
- Giáo sư Huỳnh Văn Nhì: 1974-1975
- Ban Triết: các giáo sư Mai Ngọc Đĩnh, và Nguyễn Hữu Hiệp
- Ban Quốc Văn: các giáo sư Nghiêm Minh Châu, Võ Thị Cưu, Phan Thị Bích Hà, Nguyễn Văn Hiệp, Trần Thái Hồng, Dương Đức Khoáng, Nguyễn Thị Tống Sơn, Mai Thị Thanh, Nguyễn Chí Thành, Nguyễn Thị Kim Thơ, Trương Thị Lệ Thủy, Phạm Xuân Tích, Vũ Xuân Tràng, và Đinh Đắc Vỹ
- Ban Pháp Văn: các giáo sư Phan Thị Bạch Điểu, Nguyễn Ngọc Hà, Dương Văn Hóa, Lưu Thị Diệu Lệ, Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Đỗ Duy Nội, Lê Tấn Phước, Cao Thu Thủy, và Nguyễn Bá Việt
- Ban Anh Văn: các giáo sư Cao Lương Chung, Hồ Đình Đóa, Ngô Tôn Huấn, Nguyễn Hữu Khoáng, Nghiêm Văn Minh, Lưu Thị Kỳ Nam, Nguyễn Thị Tuyết Nga, Hoàng Mạnh Ninh, Hà Xuân Phong, Lê Văn Ruệ, Đặng Đức Thanh, Lê Công Văn, và Lê Thành Việt
- Ban Kiến Thức Xã Hội (Sử Địa): các giáo sư Nguyễn Thái An, Trần Thế Đức, Nguyễn Ngọc Hoàng, Nguyễn Nhã, Bùi Văn Nhự, Nguyễn Xuân Phép, Nguyễn Mạnh Quang, Nguyễn Nhựt Tấn, Lâm Vĩnh Thế, Nguyễn Ngọc Trác, và Trần Anh Tuấn
- Ban Toán: các giáo sư Nguyễn Hữu Hệ, Nguyễn Nhất Lang, Nguyễn Phú Liễm, Trần Quang Nghĩa, Trần Hữu Nghiệp, Tống Văn Nhàn, Huỳnh Văn Nhì, Đoàn Tấn Phụng, Trần Ngọc Quang, Dương Hồng Quân, Thái Xuân Quế, Trương Văn Thành, Trần Đức Thưởng, và Trần Ngọc Tiến
- Ban Lý Hóa: các giáo sư Trần Vân Anh, Trịnh Hồng Hải, Bùi Quang Hân, Hà Thị Vinh Hoa, Trương Thiệu Hùng, Mai Nho Lâm, Trịnh Đình Loạt, Trần Thị Thiền, Võ Ngọc Tư, và Nguyễn Duy Ứng
- Ban Vạn Vật: các giáo sư Châu Ngọc Tốt, Đặng Minh Trí, Trần Thị Tuyết, Hoàng Thị Như Ý
- Ban Doanh Thương: các giáo sư Nguyễn Thành Danh, Nguyễn Văn Dũng, Phan Thị Hiếu, Phan Thanh Hoài, Trần Thị Hương, Nguyễn Kim Hồng, Hoàng Ngọc Khiêm, Võ Phước Long, và Võ Thị Nguyệt
- Ban Kinh Tế Gia Đình: các giáo sư Liên Tú Anh, Bùi Thị Ngọc Ân, Nguyễn Thị Bảy, Phạm Thị Minh Dung, Hồ Thị Mỹ Quang, Phan Thị Thúy Nương, Lại Thị Sáu, Đặng Thị Bích Thủy, và Phạm Ánh Tuyết
- Ban Công Kỹ Nghệ: các giáo sư Lê Văn Hớn, Lâm Hoàng Minh, Nguyễn Văn Nam, Hà Văn Tịnh, và Bùi Khắc Trụ
- Ban Âm Nhạc: các giáo sư Trương Văn Khuê (Bắc Sơn), Lê Hoàng Long, Trần Thanh Nghị, và Cao Thanh Tùng
- Ban Hội Họa: các giáo sư Nguyễn Dzoãn Đức, và Đặng Bích Thủy
- Ban Thể Dục: các giáo sư Huỳnh Thị Liêng, Phan Hữu Thành, Hoàng Như Tùng, và Lê Thị Bạch Tuyết
- Học sinh được phân thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 đến 6 em; học sinh sẽ tự bầu ra trưởng nhóm.
- Mỗi nhóm sẽ được giao cho một đề tài nằm trong chương trình của môn học.
- Giáo sư sẽ hướng dẫn tổng quát về đề tài và sách giáo khoa
- Nhóm sẽ tự tổ chức việc phân công trong nhóm từ việc truy tìm tài liệu ở thư viện (không chỉ giới hạn ở sưu tập của Thư Viện trường), viết bài, thuyết trình, chuẩn bị và trả lời các câu hỏi của các bạn học
- Giáo sư sẽ tuyệt đối không can thiệp vào trong suốt thời gian của buổi thuyết trình
- Sau khi buổi thuyết trình hoàn tất, các giáo sư sẽ tổng kết, nêu rõ ưu khuyết điểm của buổi thuyết trình, và, dĩ nhiên, sẽ chính thức lượng giá buổi thuyết trình và cho điểm
- Chứng chỉ Hoàn Tất Mỹ Mãn Lớp 11, được Bộ Giáo Dục công nhận tương đương với Bằng Tú Tài I
- Chứng Chỉ Thành Chung Trung Học Tổng Hợp, được Bộ Giáo Dục công nhận tương đương với Bằng Tú Tài II (về sau đổi lại gọi là Bằng Tú Tài Tổng Hợp)
- 2 học sinh đạt Hạng Rất Giỏi (Ưu)
- 25 học sinh đạt Hạng Giỏi (Bình)
- 10 học sinh đạt Hạng Khá (Bình Thứ)
- 68 học sinh đạt Hạng Thường (Thứ)
- Phạm Cao Dương, “Sự liên tục của lịch sử trong nền giáo dục của Miền Nam thời trước năm 1975,” trong Giáo dục ở Miền Nam Tự Do trước 1975 (Education in South Vietnam before 1975). Santa Ana, CA: Lê Văn Duyệt Foundation và Tập San Nghiên Cứu Văn Hóa Đồng Nai Cửu Long, 2006, tr. 130.
- Nguyễn Hữu Phước, “Sơ lược lịch sử giáo dục Việt Nam (1954-1974): Dân tộc, Nhân bản, Khai phóng,” trong cùng tài liều vừa dẫn bên trên, tr. 136.
- Trần Văn Chánh, “Giáo dục miền Nam Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/tran-van-chanh/giao-duc-mien-nam-viet-nam-1954-1975-tren-con-duong-xay-dung-va-phat-trien. Tác giả ghi rõ như sau: “Đại hội Giáo dục Quốc gia lần II năm 1964 (gọi là Đại hội Giáo dục Toàn quốc 1964) tiếp tục tái xác nhận ba nguyên tắc định hướng căn bản nhưng sửa lại thành: nhân bản, dân tộc, khoa học.”
- Trường Trung Học Kiểu Mẫu (thuộc Trường Đại-Học Sư-Phạm, SAIGON): Dự án Đại Cương để Đệ Trình Hội-đồng Khoa Đại-học Su-Phạm. Saigon: Đại-học Sư-Phạm, Tháng 3 năm 1965. 14 trang. Tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.kieumauthuduc.org/images/KMTD_Docs/DuAnDaiCuong1965.pdf
- Phạm Văn Quảng, “Việc chuẩn bị Chương Trình Trung Học Tổng Hợp,” trong cùng tài liệu đã dẫn tại các Ghi chú số 1 và số 2, tr. 182-183. Giáo sư Phạm Văn Quảng, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Anh Văn, Khóa 1 (1958-1961), Giáo sư môn Anh Văn tại Trường Trung Học Petrus Ký, sau đó du học tại Hoa Kỳ, tốt nghiệp bằng Bachelor of Art, Đại Học George Peabody College, Tennessee, và bằng Master of Education, Đại Học Southern Illinois University (SIU), Hoa Kỳ, chính là Giáo sư Trưởng Ban Hướng Dẫn Khải Đạo của THKMTĐ và cũng là vị Hiệu Trưởng thứ ba của Trường.
- Trường Trung Học Kiểu Mẫu, tài liệu đã dẫn, tr. 2.
- Trường Trung Học Kiểu Mẫu, tài liệu đã dẫn, cùng trang.
- Phạm Văn Quảng, “Đúc kết ý nghĩa của chương trình thực nghiệp trong hệ thống giáo dục và hướng dẫn,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://kyuckieumauthuduc.com/kieumau/chuyen-xua/mon-hoc-huong-nghiep/114-y-ngha-ca-chng-trinh-thc-nghip.html
- Trấn Cẩm Hồng, “Tầm quan trọng của môn Công Kỹ Nghệ,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://kyuckieumauthuduc.com/kieumau/chuyen-xua/mon-hoc-huong-nghiep/110-tm-quan-trng-ca-mon-hc-cong-k-ngh.html Giáo sư Trần Cẩm Hồng, tốt nghiệp Bachelor of Science in Industrial Arts, Đại Học Ohio, Hoa Kỳ, chính là Giáo sư Trưởng Ban Công Kỹ Nghệ của THKMTĐ.
- Nguyễn Văn Nam, “Nội dung môn Công Kỹ Nghệ,“ tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://kyuckieumauthuduc.com/kieumau/chuyen-xua/mon-hoc-huong-nghiep/111-ni-dung-mon-cong-k-ngh.html Giáo sư Nguyễn Văn Nam, tốt nghiệp Bachelor of Science in Industrial Arts, Đại Học Indiana, Hoa Kỳ, là Giáo sư ban Công Kỹ Nghệ của THKMTĐ.
- Dương Thị Kim Sơn, “Tầm quan trọng của môn Kinh Tế Gia Đình,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://kyuckieumauthuduc.com/kieumau/chuyen-xua/mon-hoc-huong-nghiep/112-tm-quan-trng-ca-mon-kinh-t-gia-inh.html?showall=1 Giáo sư Dương Thị Kim Sơn, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Anh Văn, Khóa 1 (1958-1961), Bachelor of Science in Education (1963), Master of Science (1964), Đại Học Ohio, HoaKỳ, và Post Graduate, Queen Elizabeth College / University of London, Anh Quốc (1972-1973), là Giáo sư các môn Anh Văn, Hướng Dẫn Đức Dục, và cũng chính là Giáo sư Trưởng Ban Kinh Tế Gia Đình của THKMTĐ.
- Huỳnh Thị Bạch Tuyết, “Phân phối chương trình Kinh Tế Gia Đình,” trong cùng tài liệu trực tuyến vừa ghi bên trên ở Ghi Chú số 11. Giáo sư Huỳnh Thị Bạch Tuyết, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Vạn Vật, Khóa 1 (1958-1961), Bachelor of Science in Education (1963), Master of Science (1964), Đại Học Ohio, HoaKỳ, và Post Graduate, Queen Elizabeth Colleg / University of London, Anh Quốc (1972-1973), là Giáo sư môn Kinh Tế Gia Đình của THKMTĐ.
- Phan Thanh Hoài, “Giáo dục Doanh Thương trong chương trinh trung học phổ thông,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://kyuckieumauthuduc.com/kieumau/chuyen-xua/mon-hoc-huong-nghiep/113-giao-dc-doanh-thng-trong-chng-trinh-ph-thong.html Giáo sư Phan Thanh Hoài, tốt nghiệp Master of Education, Đại Học Kent State, Hoa Kỳ, chính là Giáo sư Trưởng Ban Doanh Thương của THKMTĐ.
- Huỳnh Văn Nhì, “Lược sử Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://kyuckieumauthuduc.com/kieumau/chuyen-xua/lich-su-cua-truong/thay-co-viet/209-lch-s-trng-chng-2-phn-1.html Giáo sư Huỳnh Văn Nhì, tốt nghiệp Ban Toán, Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Khóa 4 (1964), chính là Giáo sư Ban Toán, Giám Học, và cũng là vị Hiệu Trường cuối cùng của THKMTĐ. Xin xem chi tiết về Hệ Thống Lượng Giá của THKMTĐ tại Chương 4 của tài liệu này với tựa đề Phương pháp đánh giá thành quả học tập của học sinh Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức.
- Phanxipăng, “Nhớ trường Kiểu Mẫu,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.rongmotamhon.net/static/chimvie3/55/phanxipn_155NhoTruongKieuMau.htm
- Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.facebook.com/saigontoiyeu54/posts/979047485591835/
- Huỳnh Văn Nhì, tài liệu đã dẫn, Chương 1, tr. 25.
- Lâm Vĩnh Thế, “Thư viện Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức,” đã đăng trong Thư viện tập san, Bộ mới, số 10, Đệ 4 TCN (1970), tr. 25-31, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn trong Trang Web Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế tại địa chỉ Internet sau đây: https://drive.google.com/file/d/0B3Hpasd2o_vcdjMyMXNVa3VmSzQ/view Giáo sư Lâm Vĩnh Thế, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Sử Địa, Khóa 3 (1963), Master of Library Science, Đại Học Syracuse, New York, Hoa Kỳ (1973), chính là Giáo sư môn Kiến Thức Xã Hội, và Quản Thủ Thư Viện của THKMTĐ.
- Lâm Vĩnh Thế, “Chung một giấc mơ,” đã đăng trong Nhìn vể trường xưa: đặc san 2006, Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức, tr. 76-77, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn trong Trang Web Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế tại địa chỉ Internet sau đây: https://drive.google.com/file/d/0B3Hpasd2o_vcdFFXNXliUTFuRkU/view
- Lâm Vĩnh Thế, “Du Khảo: một nét đặc thù của chương trình giáo dục của Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức,” tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn trong Trang Web Tuyển tập Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế tại địa chỉ Internet sau đây: https://drive.google.com/file/d/0B3Hpasd2o_vcdTdURmliZlJNS2M/view
- Huỳnh Văn Nhì, tài liệu đã dẫn, Chương 4, tr, 147.
- Phạm Gia Vinh, điện thư ngày 24-10-2020, lúc 10:31 PM; em Vinh, cựu Trưởng Ban Đại Diện Học Sinh THKMTĐ, tốt nghiệp Hạng Giỏi, Khóa 1 (1971), du học Hoa Kỳ, tốt nghiệp Kỹ Sư, thì tổng số học sinh đã trúng tuyển Hạng Giỏi bằng Thành Chung Trung Học Tổng Hơp của năm 1971 là 26, chứ không phải là 25 như trong tài liệu của Giáo Sư Huỳnh Văn Nhì.
- Phạm Văn Quảng, tài liệu đã dẫn, tr. 185.
- Nguyễn Trung Quân, “Đôi điều ghi nhớ về trường trung học tổng hợp ở Miền Nam Việt Nam,” trong Giáo dục ở Miền Nam Tự Do trước 1975 (Education in South Vietnam before 1975), tài liệu đã dẫn bên trên, tr. 194-195.